[Nha-hang-tiec-cuoi][slider2]

Tiếp theo phần 1. Cẩm nang cưới hỏi xin giới thiệu các thuật ngữ trong cưới hỏi thường được dùng trong đám cưới Việt. 



Vật dụng, đồ đạc

Nhẫn

Nhẫn đính hôn: theo phong tục phương Tây nam thường quỳ xuống trao nhẫn đính hôn có gắn kim cương cho nữ, đồng thời ngỏ lời cầu hôn. Ở Việt Nam hiện nay cũng có một số trường hợp, do ảnh hưởng của phương Tây, đã lưu tâm hơn đến việc mua sắm nhẫn đính hôn trước khi cưới và thường trao trong lễ ăn hỏi.

Nhẫn cưới: trước kia nhẫn cưới chỉ nhẫn riêng cho nữ. Từ sau thế chiến 2 nhẫn cưới làm theo cặp thường giống nhau hoặc hơi khác nhau nhưng gợi nhớ đến nhau (ví dụ hình thức giống nhau, nhưng nhẫn của nam không gắn đá). Nhẫn được làm bằng kim loại quý (như vàng, bạch kim) trơn hoặc có gắn đá quý chủ yếu là kim cương gắn chìm. Nhẫn được trao vào ngày cưới.

Nhẫn kỷ niệm ngày cưới: nhẫn được các đôi vợ chồng mua nhân kỷ niệm ngày cưới, thường làm giống nhau và có gắn đá quý.

Nhẫn khi làm mẹ: một số nước phương Tây, như vùng Scadinavia phụ nữ thường đeo ba nhẫn trong đó có nhẫn đính hôn, nhẫn cưới và một chiếc nhẫn khi bắt đầu làm mẹ.

Thiệp

Thiệp cưới: thiệp thường làm màu đỏ tuy hiện nay nhiều nơi thiên về các màu nhẹ nhàng hơn như màu hồng, màu kem, màu vàng dịu. Thiệp được trang trí trang nhã và ghi nội dung cô đọng nhưng trang trọng. Thiệp dùng để mời cưới và thường chia thành vài loại tuy hình thức giống nhau nhưng ghi chữ khác nhau: mời khách của cha mẹ vợ, mời khách của cha mẹ chồng (ghi là đến "dự lễ thành hôn của hai con chúng tôi", mời khách của vợ, chồng chỉ ghi đến "dự lễ thành hôn của hai chúng tôi".

Thiệp báo hỉ: Trong trường hợp không mời cưới, đôi dâu rể có thể gửi thiệp báo hỉ để báo tin vui với bà con, bạn bè thân thiết thông báo họ đã là vợ chồng của nhau.

Tư trang

Trang điểm cưới: là thủ tục trang điểm chủ yếu dành cho cô dâu (đôi khi có cả cha, mẹ, chú rể cũng đi trang điểm nhưng không được coi là trang điểm cưới). Mục đích trang điểm nhằm làm tôn vinh vẻ đẹp của cô dâu lộng lẫy nhất trong ngày vu quy trọng đại của cuộc đời. Trang điểm cưới thường tiến hành tại các studio kiêm luôn ba việc: trang điểm, cho thuê váy cưới và chụp ảnh cưới, tuy nhiều khi cô dâu cũng thuê người trang điểm tại nhà. Trang điểm cưới, cũng tương tự như các hình thức trang điểm dành cho những lễ hội cầu kỳ, thường bao gồm làm tóc, kết hoa trên tóc, tô son, đánh phấn.

Váy cưới: làm theo kiểu châu Âu, thông dụng nhất hiện nay là sử dụng màu kem với hoa trang trí nhẹ nhàng. Váy cưới thường được thuê tại các studio chuyên cho thuê, hoặc may.

Áo dài cưới: áo dài cưới thường làm màu đỏ có các chữ song hỷ vàng, thường được cô dâu mặc trong ngày cưới đi kèm khăn xếp. Trong lễ ăn hỏi các cô gái nhận tráp cũng mặc áo dài màu đỏ (có thể có các chữ song hỷ vàng), nhưng không được coi là áo dài cưới và không đội khăn.

Của hồi môn: thường là vàng, tiền hoặc đồ đạc có giá trị được gia đình cha mẹ vợ trao tặng cho con gái khi con gái đi lấy chồng. Tuy nhiên, hiện nay của hồi môn có khi gọi khái quát để chỉ cả những vật dụng có giá trị cha mẹ vợ dành tặng cho chàng rể, hoặc mẹ chồng tặng con dâu trong ngày cưới.




Biểu trưng

Chữ song hỷ: chữ được cắt cách điệu, dán trên tất cả những vật dụng liên quan đến ngày cưới (như các lễ vật), xe hoa, xe đón dâu v.v.

Biểu trưng lễ cưới khác: có thể là đôi chim bồ câu, hình trái tim v.v.

Phòng cưới và giường cưới

Phòng cưới: căn phòng ngủ của hai vợ chồng sau lễ cưới. Trước ngày cưới gia đình thường chuẩn bị đồ đạc trong phòng cưới bao gồm giường cưới, đệm, chăn, ga, gối, bàn phấn, tủ dựng quần áo. Trong ngày cưới phòng được trang trí trang trọng với hoa kết đầu giường, tủ, cánh cửa v.v. Phòng thường không được cho người vào trước thời điểm chú rể đón dâu về. Sau khi chú rể đón dâu về thường thắp hương gia tiên, sau đó cho cô dâu ngồi (nằm) trên giường cưới chụp ảnh một số kiểu ảnh lấy may.

Giường cưới: được các đôi lứa đặc biệt quan tâm chọn mua trước ngày cưới. Giường cưới thường làm gỗ tốt, rộng rãi. Sau khi đã lắp đặt cẩn thận thường người ta tối kỵ di chuyển vị trí của giường, nhất là khi nhà có phụ nữ đang mang thai.

Chiếu cưới: thường mua cả đôi (dù khi trải chiếu chỉ trải một chiếc). Chiếu được một người phụ nữ "mát tay", mắn con, sinh con có cả trai cả gái và nuôi dạy con tốt trải một chiếc lên giường và một chiếc cuộn ở đầu giường. Sau khi trải chiếu, phòng cưới thường được đóng lại để không có người lạ leo lên nghịch ngợm. Hiện nay, song song với trải chiếu cưới là trải chăn, ra giường, gối, đệm. Thủ tục trải chiếu cưới, trong các nghi thức cưới hỏi, được đặc biệt quan tâm.

Gối cưới: trước kia là một gối đôi dài thường được thêu rất cầu kỳ, tinh tế (như đôi chim bồ câu, chữ song hỷ). Nay thường thay bằng hai gối ngắn.

Vật dụng khác

Tráp, mâm hay quả cưới: là các hộp hoặc mâm gỗ sơn son thếp vàng, bày lễ vật trong lễ ăn hỏi hoặc lễ cưới.

Trầu cau theo phong tục cũ của sự tích trầu cau.

Ảnh cưới: trước kia do đời sống còn khó khăn, ảnh cưới chỉ khái quát các ảnh chụp tại lễ cưới nói chung. Hiện nay khái niệm ảnh cưới chỉ còn thiên về ảnh cưới tại các studio chuyên trang điểm, chụp ảnh cưới và cho thuê váy cưới.

Bánh cưới: thường là bánh ga tô được xếp theo tầng, đôi dâu rể sẽ cắt bánh cưới trong lễ cưới, tượng trưng cho lời chúc may mắn, tốt lành trong cuộc sống sau này, nhất là đời sống tình dục và sinh con đẻ cái.

Tháp rượu: tháp xếp ly, có thể cho đá khô tạo khói khi rót rượu. Đôi dâu rể sẽ rót tràn ly trong lễ cưới với một chai rượu Sâm panh, mục đích nhấn mạnh ý nghĩa việc làm chung của hai vợ chồng, sự đồng lòng chung sức trong cuộc sống gia đình sau này.

Xe hoa: là xe nhà trai đưa đến nhà gái đón dâu. Xe hoa đa dạng, theo truyền thống có thể là xe ngựa kéo. Nay chủ yếu là xe ô tô bốn chỗ có kết hoa.

Hoa cưới: gọi chung bó hoa cô dâu cầm (hoa tay) và hoa gắn áo chú rể. Hai loại hoa này thường cùng loại. Trước kia hoa cưới thường có màu trắng tượng trưng cho sự trong trắng của cô dâu, nhưng hiện nay màu sắc của hoa đa dạng hơn. Tuy nhiên, khi đặt hàng hoa kết hoa ngày cưới, hoa cưới được chỉ tất cả các loại hoa: hoa tay, hoa áo chú rể, hoa trang trí phòng cưới, hoa kết trên xe hoa, hoa kết cổng chào với bóng bay, thậm chí cả hoa bày trên các bàn trong tiệc cưới.

Phông cưới: phông trang trí chữ song hỷ, tên tuổi cô dâu chú rể, ngày giờ cưới. Tại nhà gái phông sẽ ghi là "Lễ vu quy". Tại nhà trai ghi: "Lễ thành hôn". Trong lễ báo hỉ phông được ghi dòng chữ "Lễ báo hỉ"

Tiệc cưới: là tiệc tổ chức bên nhà trai và nhà gái, thường là tiệc mặn, tiệc ngọt hoặc tiệc đứng tuy tiệc đứng ít được ưa chuộng.

Họ hàng, người giúp việc

Chú rể, cô dâu: tên gọi đôi trai gái trong ngày cưới hoặc sát ngày cưới. Sau ngày cưới gọi là đôi vợ chồng trẻ.

Thông gia: chỉ cha mẹ họ hàng bên kia, nơi có người đã cưới con nhà mình. Liên quan đến thông gia là những khái niệm cha vợ, mẹ vợ, cha chồng, mẹ chồng, cha đẻ, mẹ đẻ.

Ông mai, Bà mai: những người làm mai mối tác thành cho đôi lứa. Hiện nay, cưới hỏi không còn theo quan niệm cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy nên vai trò của ông mai bà mai đã giảm xuống hoặc không còn cần thiết.

Phù dâu: những cô gái trẻ chưa chồng đi theo cô dâu để giúp cô dâu trong ngày cưới.
Phù rể: những chàng trai trẻ chưa vợ giúp chú rể trong ngày cưới.

Nhà trai: thuật ngữ dùng trong ngày cưới hoặc ngày ăn hỏi chỉ họ hàng bên nhà chú rể.
Nhà gái: chỉ họ hàng bên nhà cô dâu.

Ly hôn

- Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng;

- Vậy việc ly hôn phải do Tòa án quyết định mới có giá trị pháp lý. Các quyết định của tòa án có thể là Quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc bản án cho phép ly hôn.

- Đơn xin ly hôn có thể do một trong hai vợ chồng ký (đơn phương) hoặc do cả hai vợ chồng cùng thuận tình ký (thuận tình) đều có giá trị.

- - Việc tòa án chấp thuận cho ly hôn không nhất thiết phải có đủ chữ ký của hai vợ chồng trong đơn ly hôn.

- Khi một trong hai hoặc cả hai vợ chồng muốn ly hôn cấn nộp đơn lên tòa án cấp quận huyện nơi cư trú để xin ly hôn.

Khái niệm khác

Mùa cưới: chỉ mùa trong năm có số lượng đám cưới được tổ chức rất đông. Tùy theo địa phương, mùa cưới thường diễn ra vào thời điểm khí hậu mát lành nhất trong năm. Ở miền Bắc Việt Nam mùa cưới thường là mùa thu hoặc mùa xuân tuy hiện nay các lễ cưới thường diễn ra quanh năm, chỉ hơi ít hơn một chút trong mấy tháng mùa hè.

Ngày cưới: còn gọi là ngày thành hôn, là thuật ngữ chỉ chính xác ngày đón dâu, đưa dâu, và tổ chức lễ thành hôn. Ngày cưới thường được nhà trai xem xét kỹ lưỡng từ trước để chọn ngày tốt. Nhiều gia đình theo phong tục truyền thống trước kia thường tổ chức tiệc mặn vào thời điểm trước ngày cưới để mời khách. Ngày cưới chỉ còn dành cho dâu rể, gia đình, bè bạn thân thiết, nhằm tiến hành các nghi thức và thủ tục theo phong tục cổ truyền và thường không có tiệc mặn, chỉ uống nước, ăn trầu cau và bánh kẹo. Tuy nhiên, hiện nay nhiều gia đình tổ chức có tính kết hợp gọn gàng, ngày cưới bao gồm cả đãi tiệc khách mời tại khách sạn, nhà hàng hoặc gia đình.

Sính lễ: những sản phẩm có giá trị vật chất được nhà trai mang sang nhà gái khi hỏi vợ.

Môn đăng hộ đối: theo quan niệm của hôn nhân thời phong kiến, môn đăng hộ đối chỉ gia đình nhà trai, nhà gái tương xứng với nhau về mặt địa vị xã hội và tài sản, đều là gia đình quyền quý và giàu có như nhau.


Tỏng hợp

Đăng nhận xét

Đám cưới

[Dam-cuoi][fbig1]

Đám hỏi

[Dam-hoi][fbig2]

Kế hoạch đám cưới

[Ke-hoach-cuoi][fbig1]

Nhà hàng tiệc cưới

[Nha-hang-tiec-cuoi][hot]

Nghi thức đám cưới

[Nghi-thuc-dam-cuoi][fbig1]

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.